In trang này
Danh xưng Chư tôn đức Tăng trong Tòng Lâm Phật giáo Bắc truyền
Cập nhật ngày: 7/8/2020 4:39:06 PM

Trải qua thời gian hình thành và phát triển lớn mạnh của Phật giáo, danh từ Tăng từ chỗ đơn thuần chỉ là tên gọi cho tu sĩ Phật giáo, tiến triển hình thành danh xưng, hàm chứa đầy đủ phẩm vị nghĩa lý Đạo Phật, từ chỗ đơn xưng danh từ biến thành phồn nghĩa danh xưng đa từ.

Pháp danh bắt đầu bằng họ Thích có ở Việt Nam từ khi nào?

Cũng như vậy tất cả những danh từ tôn xưng Chư Tôn túc trong Tòng Lâm Phật giáo Bắc Truyền đều có nguồn gốc hình thành từ Ấn Độ và thăng hoa phát triển ở Đông Phương.

Phật giáo từ nguồn cội Tây Thiên theo dòng chảy nhân sanh đổ vào Đông Độ, đem mật ấn, lòng từ nhuộm thắm trời Nam. Phật giáo đến với Phương Đông không trong tâm niệm đem ánh sáng đến nơi này giáo hóa, mà mang trọn một niệm lành làm thức dậy Phật tánh sẵn có trong tất cả chúng sanh, cho nên Phật tánh không có địa vị cao thấp, không có nhơn ngã đua tranh và cũng không vì một ý thức hệ, quyền lợi cá nhân, dân tộc hay tôn giáo để đến phương này, vì thế Phật giáo luôn lắng nghe và học hỏi tất cả những gì có lợi ích cho Phật Pháp, cho chúng sanh đều được Phật giáo dùng hết tâm học tập và Phật Giáo Bắc Truyền là một kết quả chứng minh cho sự hòa quyện thành công tuyệt vời của Đạo Phật.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Từ thuở vườn Nai đại khai Thánh giáo, độ năm anh em Kiều Trần Như xuất gia làm Tăng, giáo đoàn thành lập, danh xưng Tăng chỉ cho tu sĩ của Phật giáo xuất hiện ở thế gian. Trong sách Thích Thị Yếu Lãm chép: “Tiếng Phạm gọi là Tăng Già, Đông Độ xưng là Chúng, nay lược gọi là Tăng vậy”. Trải qua thời gian hình thành và phát triển lớn mạnh của Phật Giáo, danh từ Tăng từ chỗ đơn thuần chỉ là tên gọi cho tu sĩ Phật giáo, tiến triễn hình thành danh xưng, hàm chứa đầy đủ phẩm vị nghĩa lý Đạo Phật, từ chỗ đơn xưng danh từ biến thành phồn nghĩa danh xưng đa từ, cũng như vậy tất cả những danh từ tôn xưng Chư Tôn túc trong Tòng Lâm Phật giáo Bắc Truyền đều có nguồn gốc hình thành từ Ấn Độ và thăng hoa phát triển ở Đông Phương.

Danh Từ “Tôn Đức” là một danh từ phức hợp được tạo thành bởi hai danh từ “Tôn Giả” và “Đại đức” đây là một danh từ chung, thường được dùng để tôn xưng các bậc Trưởng Lão kỳ đức, niên cao lạp trưởng, đạo cao đức trọng của Phật giáo. Trong sách Thích Thị Yếu Lãm chép: “Tôn Giả. Tiếng Phạm gọi là A Lợi Di. Đông Độ xưng là Tôn Giả, là bậc đầy đủ đức hạnh và trí huệ, đáng để tôn kính vậy”. Trong Đại Trí Độ Luận chép: “Đại đức. Tiếng Phạm gọi là Bà Đàn Đà. Đông Độ xưng là Đại đức.

Trong Luật Tạng nhiều chỗ xưng Phật là Đại đức”. Trong Luật Tỳ Nại Da có chép: “Phật dạy: từ đây trở về sau, từ vị mới thọ Tỳ Kheo cho đến các bực trưởng túc Tỳ Kheo đều gọi là Đại đức”. Trong sách Tăng Huy Ký chép: “hạnh lành viên mãn, đức cao trọng vọng, tôn xưng Đại đức”. Ngoài ra trong Tòng Lâm Phật giáo Bắc Truyền còn có những danh từ riêng để tôn xưng các bậc Tôn Đức Tăng Già như: Sa Môn, Đạo Sư, Tổ Sư, Thiền Sư, Trưởng Lão, Tông Sư, Pháp Chủ, Đại Sư, Thượng Sĩ, Thượng Nhân, Đạo Nhân, Phương Trượng, Đường Thượng, Hòa Thượng, Long Tượng.

1. Sa Môn: Trong Kinh Trường A Hàm chép: “Sa Môn là người xã bỏ ân ái, xuất gia học đạo, nhiếp ngự các căn, không nhiễm các dục vọng ở bên ngoài, có lòng từ rộng lớn không làm thương hại chúng sanh, thấy khổ không sợ, thấy vui không ham thích, năng nhẫn như đất vậy”. Trong Kinh Niết Bàn chép: “Tiếng Phạm gọi là Sa Môn, Đông Độ xưng là Thiện Giác”.

Trong Kinh Bảo Tích chép: “Sao gọi là Sa Môn vì điều phục các duyên, đạt đến tịch diệt, thọ học các pháp, giới thân thanh tịnh, thông hiểu thật nghĩa các pháp, đạt đáo giải thoát, lìa khỏi tám pháp của thế gian, tâm kiên cố không lay động như đại địa, hộ trì hết thảy các pháp của ta và người, ở nơi hình tướng không hề nhiễm trước, như vẫy tay trong không trung không có chướng ngại, thành tựu nhiều pháp như vậy gọi là Sa Môn”.

Trong Luận Du Già chép: “Sa Môn có 4: 1. là Thắng Đạo Sa Môn tức là Chư Phật vậy, 2. là Thuyết Đạo Sa Môn chỉ cho những vị giảng thuyết chánh pháp, 3. Hoạt Đạo Sa Môn chỉ cho những vị chuyên tu các phẩm hạnh lành, 4. Ôi Đạo Sa Môn chỉ cho những vị không hành Bát Thánh Đạo, tự hành tà hạnh, không phải là bực đạo đức cho nên gọi là ôi đạo sa môn”. Trong Luật Ngũ Phần chép: “Khi Đức Phật mới thành đạo, mọi người đều tôn xưng Ngài là Đại Sa Môn”.

2. Đạo Sư: Trong Kinh Đại Pháp Cự Đà La Ni chép: “vì có thể đối với Đạo Bồ đề không còn thối chuyển, không đoạn tuyệt Đạo Bồ đề, cho nên gọi là Đạo Sư”. Trong Kinh Hoa Thủ chép : “Có thể vì chúng sanh mà nói pháp không sanh tử nữa, ấy là Đạo Sư”. Trong Kinh Thương Chủ Thiên Tử Sở Vấn chép: “như thế nào gọi là Đạo Sư? Bồ Tát Văn Thù trả lời: Ở trong Phật Đạo, thường có thể làm cho chúng sanh thành thục thâm tín Phật Pháp, thì gọi là Đạo Sư”.

Trong Kinh Phật Báo Ân chép: “Là bậc Đại Đạo Sư, lấy con đường đi đến Niết Bàn làm lộ chính, khiến cho đắc được vô vi thường lạc vậy”. Trong Kinh Thập Trụ Đoạn Kết chép: “người được xưng là Đạo Sư, là người có thể khiến cho hết thảy muôn loài chúng sanh, nhận biết được chánh đạo”.

3. Tổ Sư: Trong sách Bảo Lâm Truyện chép: “Thái thú Kỳ Thành là Dương Huyễn Chi hỏi Đạt Ma Tổ Sư rằng: Tây thiên truyền thừa xưng là Tổ, vậy có nghĩa như thế nào? Đạt Ma Tổ sư trả lời: Hiểu thấu Phật tâm tông, hành trì, liễu giải đều có thể tương ưng, thì gọi là Tổ Sư”. Thiền tông Tây thiên truyền thừa có 32 vị Tổ, Đông độ có 6 vị tổ, Việt Nam Thiền Phái Trúc Lâm có 3 vị Tổ. Còn các tông phái trong thập tông đều có Tổ sư riêng của tông phái mình.

4. Thiền Sư: Trong Kinh Thiện Trụ Ý Thiên Tử Sở Vấn chép: “Thiên Tử hỏi Ngài Văn Thù rằng: Những vị Tỳ Kheo như thế nào thì được xưng là Thiền Sư? Ngài Văn Thù đáp: Ở trong tất cả các Pháp, hành trì hay tư duy đều không còn chỗ để sanh phiền não nữa, nếu biết như vậy người đó được xưng là Thiền sư. Thậm chí cho đến các pháp có, pháp không, pháp nào có thể giữ lấy hoặc không giữ lấy, tất cả đều không có pháp để giữ lấy, trong đời này cho đến đời sau và trong tam giới cũng không có pháp để giữ lấy, cho đến trong tất cả các pháp đều không có một pháp để giữ lấy, vì tất cả các pháp đều không, chúng sanh cũng như vậy, không có gì để giữ lấy, được như vậy thì xưng là Thiền Sư.

Vào chùa xưng hô như thế nào cho đúng?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Không còn nhận ít nhiều, không phải là nhận, không nhận, trong tất cá các pháp đều vô sở đắc, vì vậy mà không còn ức niệm, nếu như không còn ức niệm thì tu hay không tu, chứng hay vô chứng không còn, như vậy xưng là Thiền Sư”.

Trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên chép: “xưng là Thiền sư có hai bậc:

1. Đầy đủ đức hạnh được Vua ban thưởng ân tứ cho huy hiệu, xưng là hiệu gì đó Thiền Sư.

2. Là các vị tăng thuộc Thiền tông xưng hô các bậc tôn túc trong tông phái là Thiền sư”. Ở nước ta có Vạn Hạnh Thiền Sư, Pháp Thuận Thiền Sư, Không Lộ Thiền Sư, Hương Hải Thiền Sư… đều là những bậc thiền lâm long tượng, kiệt xuất Tăng già, được triều đình vua quan kính trọng sắc phong huy hiệu.

5. Trưởng Lão: Trong Kinh Trường A Hàm chép: “Trưởng Lão có ba bậc.

1. Niên cao lạp trưởng xưng là Trưởng Lão.

 

2. Liễu đạt pháp tánh, đầy đủ trí đức xưng là Trưởng Lão.

3. Làm vẽ ra dáng Trưởng Lão thì gọi là giả Trưỡng Lão”. Trong sách Truyền Đăng Lục. Thiền Lâm Quy Thức chép: “Nếu như đầy đủ Đạo nhãn, cụ túc đức hạnh đáng để tôn kính, thì được tôn xưng là Trưởng Lão.

Ví dụ như ở Tây Vực Ngài Tu Bồ Đề đạo cao lạp trưởng, được tôn xưng là trưởng lão”. Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm chép: “Ngài A Nan bạch Phật rằng: nay chư Tỳ Kheo như thế nào để tự xưng danh hiệu? Phật bảo Ngài A Nan: nếu như các vị Tỳ Kheo nhỏ tuổi nên tôn xưng các vị đại Tỳ Kheo là Trưởng Lão...”. Trong sách Tổ Đình Sự Uyển chép: “Nay Thiền Tông xưng các vị trụ trì là Trưởng Lão” .

6. Tông Sư: Trong sách Thích Thị Yếu Lãm chép: “là vị thầy truyền trao Phật Tâm Tông. Tông là tôn kính vậy. Tông sư là người thông suốt pháp không, chỉ rõ thật pháp vốn không, cho nên được chúng sanh tôn kính vậy”.

7. Pháp Chủ: Trong Kinh Trường A Hàm chép: “Phật là thuyết Pháp Chủ, xưa nay đều xưng các vị Tăng thiện nghệ thuyết pháp, liễu nghĩa tất cả các pháp là Pháp Chủ”. Pháp Chủ cũng là xưng vị của các bậc cao Tăng được triều đình tôn kính, trong sách Thích Thị Yếu Lãm chép: “Vua Tống Hiếu Vũ sắc phong cho Thiền sư Đạo Hiến làm Pháp Chủ chùa Tân An và Chùa Chấn. Đương thời được tôn xưng là Vạn Nhân Pháp Chủ”. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ngôi vị Pháp Chủ là phẩm vị cao nhất trong Tăng Đoàn.

8. Đại Sư: Trong sách Thích Thị Yếu Lãm chép: “Đại sư là Sư phạm vậy... Đức Phật được tôn xưng là Đại Sư của Tam Giới”. Trong Du Già Luận chép: “có thể hóa đạo vô lượng chúng sanh, lìa khổ não đạt đến tịch diệt...lại có thể diệt trừ hết thảy tà uế và ngoại đạo, xuất hiện trên thế gian, cho nên được tôn hiệu là Đại Sư”. Ngoài Đức Thế Tôn được tôn xưng là Đại Sư ra tất cả những người được tôn hiệu Đại Sư đều phải cụ túc 5 điều công đức.

Trong Du Dà Luận chép: “Lược nói về Đại Sư có 5 công đức: 1. Giới hạnh thanh tịnh trang nghiêm, cả đời hành trì giới luật không có gì sai thất. 2. Giỏi về kiến lập pháp tràng hoằng pháp độ sanh. 3. Giỏi về giáo dục, học vấn uyên thâm. 4. Giỏi về tùy cơ ứng Pháp, tùy theo chỗ nghi hoặc mà giải nghĩa, có thể lập pháp hoặc không cần lập pháp, không còn vướng mắc trong các pháp đều có thể liễu không. 5. Làm thầy dạy cho chúng sanh xuất ly khổ hải”.

Chắp tay và cách xưng hô của Phật tử

Danh xưng Chư tôn đức Tăng trong Tòng lâm Phật giáo Bắc truyền 2

9. Thượng Sĩ: Trong Du Dà Luận chép: “Người không vì lợi ích của riêng mình, mà làm chỉ vì lợi cho người khác gọi là hạ sĩ, người chỉ vì lợi cho mình không có lợi cho người khác mà làm gọi là trung sĩ, người làm lợi cho chính mình và cũng lợi cho người khác thì được gọi là thượng sĩ. Thượng sĩ phải đầy đủ lợi mình lợi người và phải có tâm lớn, nguyện lớn, như vậy cũng được xưng là Đại Sĩ”.

10. Thượng Nhân: Trong Kinh Ma Ha Bát Nhã chép: “Như thế nào gọi là thượng nhân? Phật dạy: nếu như Bồ Tát nhất tâm hành A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, tâm không tán loạn thì xưng là thượng nhân”. Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm chép: “Làm người sống ở trên đời có sai thì tự mình nên sửa sai, người như vậy được gọi là thượng nhân”. Trong Thập Tụng Luật chép: “Người có bốn loại: 1. Người thô ác; 2. Người ô trược; 3. Người bình thường; 4. Thượng nhân. Vua Bình Sa Vương xưng đệ tử Phật là Thượng Nhân”. Trong sách Thích Thị Yếu Lãm chép: “Trong thì đầy đủ trí đức, ngoài thì cụ túc các thắng hạnh, ở trong người mà trên người, được xưng là Thượng Nhân”.

11. Đạo Nhân: Trong Luận Trí Độ chép: “Người đắc đạo được xưng là Đạo Nhân, ngoài người xuất gia ra những người ngoài thế gian cũng được xưng là Đạo Nhân”.

12. Phương Trượng: Trong sách Thiền Lâm Tượng Khí Tiên chép: “Trụ Trì là Phương Trượng vậy”. Trong sách Thích Thị Yếu Lãm chép: “Phương Trượng là chánh tẩm của một ngôi chùa, là nơi ở của trụ trì, kiến trúc này có từ thời nhà Đường Hiển Khánh trung niên, được dựng theo tích Ngài Văn Thù đến thăm ngôi nhà nhỏ chỉ vuông vắn khoảng một trượng của ngài Duy Ma Cật ở khi thị hiện thân bịnh, cho nên được gọi là Phương Trượng”. Vì Trụ Trì ở Phương Trượng cho nên từ đó về sau, trong Thiền lâm thường tôn xưng Trụ Trì là Phương Trượng.

13. Đường Thượng: Trong sách Thiền Lâm Tượng Khí Tiên chép: “Đường Đầu Hòa Thượng cũng xưng là Đường Thượng”. Trong Tòng Lâm danh xưng Đường thượng thường được dùng trong tôn hiệu, văn sớ và long vị của chư Tôn Túc Hòa Thượng hoặc là chư Tôn đức trụ trì các tự viện.

14. Hòa Thượng: Trong Luật Thiện Kiến chép: “Hòa Thượng là tiếng Thiên Trúc, tiếng Hán dịch là biết tội, biết không tội, gọi là Hòa Thượng”. Trong Hoa Nghiêm Âm Nghĩa của Ngài Huệ Uyển chép: “Danh từ Hòa Thượng theo tiếng của Ngũ Thiên Tạp gọi là Ổ Ba, Trung Hoa dịch là Cận, còn gọi là Đà Da dịch là Độc. Nghĩa là Tôn sư làm nơi chốn để cho đệ tử thân cận và học hỏi, cựu dịch là Thân Giáo Sư”. Trong Liễu Minh Luận Chánh Truyện chép: “Tiếng Phạm là Ưu Bà Đà Ha, dịch là Y học, y theo vị đó mà học giới định huệ, thì vị đó là Hòa Thượng vậy”.

Trong sách Phiên Thích Danh Nghĩa Tập chép: “Hòa Thượng tiếng Phạm gọi là Ổ Ba Thứ Ca, truyền đến nước Vu Điền, dịch thành Hòa Thượng, truyền đến Đông Độ ngài Cưu Ma La Thập dịch là Lực Sanh”. Trong Xá Lợi Phất Vấn Kinh chép: “Phàm là người xuất gia, lìa khỏi cha mẹ xã bỏ ngôi nhà sanh tử, vào trong cửa Phật, thọ Pháp vi diệu, vậy nên nương vào sức lực của thầy để sanh trưởng pháp thân, y theo công đức của thầy để nuôi lớn trí huệ mạng...

Pháp Bảo và sự nương tựa vào Pháp

Hòa Thượng còn được xưng là Cận Tụng, vì đệ tử tuổi nhỏ không thể xa thầy, thường nên thân cận, để học hỏi Kinh Luận...” . Trong sách Thiền Lâm Tượng Khí Tiên chép: “Hòa Thượng tiếng Phạm là Ổ Ba Đà Da, đây dịch là Thân Cận Giáo Sư, vì có thể dạy dỗ chúng ta lìa khỏi nghiệp thế gian, cho nên có hai loại. 1. Thân Giáo: tức là thọ nghiệp dạy dỗ cho ta; 2. Y Chỉ: tức là người để ta đi theo để học đạo vậy”.

15. Long Tượng: Trong Kinh Trung A Hàm chép: “Phật dạy Ô Đà Di, những vị Sa Môn đối với người cho đến chư thiên, không dùng thân khẩu ý để làm hại, Ta cho rằng những vị ấy là Long Tượng”. Danh xưng Long Tượng thường được dùng tôn xưng những bậc cao Tăng thạc đức của Tòng lâm.

Phật Pháp Đông truyền, trải qua hai ngàn năm truyền thừa và phát triển, do sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa mà rất nhiều danh từ của Phật giáo sau khi được dịch thành Hán ngữ, làm cho chúng ta có đôi chút nhầm lẫn cứ ngỡ rằng của Phật giáo Bắc Truyền, nhưng thực chất, tất cả những danh từ Tôn Xưng trong Tòng Lâm Phật giáo Bắc Truyền đều có nguồn gốc từ Ấn Độ và có cả những danh từ do chính Kim Khẩu của Đức Phật nói ra, cũng có những từ của Phật Giáo Bắc Truyền nhưng thiết nghĩ chỉ làm thêm nét vi diệu cho văn hóa ứng xử, xưng hô và lòng tôn kính của hàng hậu học Phật giáo Bắc Truyền đối với các bậc Trưởng Thượng, Thạc Đức Cao Tăng.

 
In trang này